Điều đó được các tác giả thể hiện trong cuốn sách chuyên khảo "Thềm lục địa trong pháp luật quốc tế" do PGS, TS Nguyễn Bá Diến, Giám đốc Trung tâm Luật Biển và Hàng hải quốc tế, Chủ nhiệm bộ môn Luật Quốc tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) làm chủ biên, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông vừa phát hành.
Cuốn sách trình bày và luận giải những vấn đề lý luận cơ bản nhất của Luật Biển quốc tế về thềm lục địa như: Khái niệm khoa học địa chất, khoa học pháp lý về thềm lục địa; quy chế pháp lý của thềm lục địa; xác định ranh giới thềm lục địa theo quy định pháp luật quốc tế; quy trình chung thực hiện việc xác định ranh giới ngoài thềm lục địa vượt quá 200 hải lý theo quy tắc của ủy ban ranh giới thềm lục địa; phân định thềm lục địa của các quốc gia có bờ biển liền kề hoặc đối diện nhau; quy chế pháp lý và vai trò của đảo trong việc xác định ranh giới thềm lục địa; vấn đề xác định thềm lục địa theo pháp luật và thực tiễn Việt Nam.
Nhiều sách địa lý, bản đồ và tài liệu cổ của Việt Nam ghi chép rõ Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn Lý Hoàng Sa, Đại Trường Sa hoặc Vạn Lý Trường Sa từ lâu đã là lãnh thổ Việt Nam. Nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ phương Tây trong những thế kỷ trước đều xác nhận Hoàng Sa (Pracel hay Paracel) thuộc lãnh thổ Việt Nam. Với tư cách là người làm chủ, trong nhiều thập kỷ, nhà nước phong kiến Việt Nam đã nhiều lần tiến hành điều tra khảo sát địa hình và tài nguyên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Các sách địa lý và lịch sử của Việt Nam từ thế kỷ XVII đã ghi lại kết quả các cuộc khảo sát đó. Do đặc điểm của Hoàng Sa và Trường Sa là có nhiều hải sản quy,ù lại có nhiều hoá vật của tàu bị đắm, nhà nước phong kiến Việt Nam từ lâu đã tổ chức việc khai thác hai quần đảo với tư cách một quốc gia làm chủ. Nhiều sách lịch sử, địa lý và tài liệu cổ của Việt Nam đã nói rõ tổ chức, phương thức hoạt động của các đội Hoàng Sa có nhiệm vụ làm việc khai thác đó.
Bên cạnh những vấn đề mang tính lý luận cơ bản, cuốn sách còn phân tích thực tiễn phân định và giải quyết tranh chấp về thềm lục địa của một số quốc gia trên thế giới thông qua các án lệ điển hình của cơ quan tài phán quốc tế. Như vậy, qua các sách lịch sử, địa lý và tài liệu cổ của Việt Nam cũng như chứng cứ của nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ phương Tây nói trên, từ lâu và liên tục trong hàng mấy trăm năm từ triều đại này đến triều đại khác, nhà nước Việt Nam đã làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự có mặt đều đặn của các đội Hoàng Sa do nhà nước thành lập trên hai quần đảo mỗi năm từ 5 đến 6 tháng để hoàn thành một nhiệm vụ do nhà nước giao tự nó đã là một bằng chứng đanh thép về việc nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo đó một cách thật sự, hòa bình và liên tục. Việc chiếm hữu và khai thác đó của nhà nước Việt Nam không bao giờ gặp phải sự phản đối của một quốc gia nào khác, kể cả Trung Quốc. Điều đó càng chứng tỏ từ lâu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã là lãnh thổ Việt Nam.
Sự công bố chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa trước 50 quốc gia hội viên thành lập Liên hợp quốc tại Hội nghị Xan Phơ-ran-xi-xcô năm 1951 chứng tỏ rằng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được các quốc gia trên thế giới thừa nhận là thuộc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam. Chính phủ Sài Gòn, sau đó là cả chính phủ Sài Gòn và chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng đều thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Có ý thức về chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo này, các chính quyền miền Nam Việt Nam đều bảo vệ chủ quyền mỗi khi có nước ngoài biểu thị ý đồ tranh giành hay xâm chiếm đảo nào đó trong hai quần đảo. Sau khi nước Việt Nam thống nhất, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa… Trên thực tế, các sự kiện, văn kiện, chứng cứ chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua bao thế kỷ đến nay còn rất nhiều. Tuy vậy, với một số dẫn chứng nêu trên, cũng có đủ cơ sở vững chắc để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp với thực tiễn và pháp luật quốc tế.
Tuấn Minh |